Việt Nam chưa thể giảm phụ thuộc nhập khẩu từ đa dạng hóa thương mại

Nguồn hình ảnh, Getty Images
Nỗ lực của Việt Nam nhằm đa dạng hóa thương mại thông qua tăng cường quan hệ với một số đối tác quốc tế vẫn không thể giúp nước này giải bài toán phụ thuộc nhập khẩu, theo một số nhà quan sát.
Điểm yếu cốt lõi là năng lực hạn chế của các doanh nghiệp trong nước, khiến các cải cách về mặt chính sách và các chữ ký với các đối tác là chưa đủ.
Việt Nam hiện vẫn đang phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc bất chấp đã ký kết các hiệp định thương mại mới và kim ngạch thương mại gia tăng.
Nỗ lực đa dạng hóa thương mại

Nguồn hình ảnh, Getty Images
Việt Nam thời gian qua theo đuổi chiến lược đa dạng hóa thương mại thông qua ba hướng chính: mở rộng mạng lưới hiệp định thương mại tự do (FTA), tăng cường quan hệ kinh tế với các đối tác ngoài những thị trường truyền thống như Trung Quốc và Mỹ, đồng thời thu hút đầu tư, công nghệ và phát triển các chuỗi cung ứng mới.
Riêng trong năm 2026, các chuyến công du của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm được cho là cho thấy rõ định hướng này.
Trong chuyến thăm cấp nhà nước Đan Mạch từ ngày 19–21/10/2026, ông Tô Lâm và lãnh đạo Đan Mạch nhất trí nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác chiến lược toàn diện.
Hai bên cam kết thúc đẩy thương mại và đầu tư song phương, tận dụng hiệu quả Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), đồng thời tăng cường kết nối chuỗi cung ứng và hợp tác trong năng lượng tái tạo, công nghệ cao và sản xuất.
Tiếp đó, trong chuyến thăm Bỉ từ ngày 21–24/10, hai bên thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư, logistics và công nghệ.
Đáng chú ý, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC) và cảng Antwerp-Bruges ký thỏa thuận khung hợp tác về cảng biển, logistics và kết nối thương mại.
Quốc hội Bỉ cũng đã thông qua Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam – EU (EVIPA), tạo cơ sở thuận lợi hơn cho đầu tư song phương khi hiệp định hoàn tất các thủ tục có hiệu lực.
Hồi tháng Tám, ông Tô Lâm thăm cấp nhà nước Úc và New Zealand.
Theo Bộ Ngoại giao Việt Nam, chuyến thăm mang lại 62 văn kiện và thỏa thuận hợp tác.
Với Úc, hai bên thúc đẩy hợp tác về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, bán dẫn, khoáng sản thiết yếu, năng lượng và chuyển đổi xanh.
Với New Zealand, trọng tâm bao gồm nông nghiệp công nghệ cao, giáo dục, mở cửa thị trường nông sản và thích ứng với biến đổi khí hậu. Các cuộc thảo luận cũng nhấn mạnh việc tăng cường liên kết chuỗi cung ứng và chuyển những cam kết cấp chính phủ thành dự án hợp tác cụ thể giữa doanh nghiệp hai nước.
Trong chuyến thăm Ấn Độ từ ngày 5 đến 7/5/2026 của ông Tô Lâm, hai bên đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 25 tỷ USD vào năm 2030, tăng cường hợp tác công nghệ và chuỗi cung ứng.
Cũng trong tháng Năm, trong chuyến thăm của ông tới Singapore từ ngày 28-31, hai nước đã công bố các thỏa thuận và biên bản ghi nhớ về đối thoại chiến lược, hợp tác chuỗi cung ứng, thương mại nông sản và nghiên cứu sản xuất tiên tiến.
Việt Nam cũng đã đạt được quan hệ Đối tác Toàn diện với Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất vào năm 2024 và theo đuổi đa dạng hóa với Hàn Quốc, nhanh chóng tăng nhập khẩu kể từ đầu những năm 2010,
Hàn Quốc hiện là thị trường nhập khẩu lớn thứ hai của Việt Nam kể từ năm 2013, chỉ đứng sau Trung Quốc. Các công ty Hàn Quốc như Samsung và LG hiện đang là các nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất của Việt Nam.
Sắp tới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự kiến thăm chính thức Nhật Bản từ ngày 8 đến 11/11/2026, với chương trình nghị sự dự kiến tập trung vào tăng cường hợp tác an ninh, kinh tế và an ninh kinh tế.
Đa dạng hóa thôi vẫn 'chưa đủ'

Nguồn hình ảnh, Getty Images
Những hoạt động này, theo một số nhà quan sát, phản ánh nỗ lực của Việt Nam trong việc đa dạng hóa thương mại và thoát khỏi sự phụ thuộc.
Tuy nhiên, lợi ích của việc đa dạng hóa thương mại sẽ bị hạn chế nếu Việt Nam không thể chuyển hóa thương mại song phương thành giá trị gia tăng có ý nghĩa, theo các chuyên gia trên tạp chí East Asia Forum.
Chẳng hạn, Úc cam kết tiếp tục nỗ lực nâng kim ngạch thương mại song phương với Việt Nam lên 20 tỷ USD, trong khi New Zealand nhất trí tăng cường nỗ lực để đạt được mục tiêu hiện tại là 3 tỷ USD.
Nhưng ngay cả khi đạt được các cam kết này, các con số nói trên vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam, bài viết trên East Asia Forum hôm 24/10 chỉ ra.
Theo một số nhà quan sát, Việt Nam nay bị mắc kẹt trong một "Tam giác thương mại Thái Bình Dương" mới với Trung Quốc, Hàn Quốc và Hoa Kỳ, làm sâu sắc thêm sự phụ thuộc của nước này đối với hàng hóa trung gian và tư liệu sản xuất. Nhập khẩu gia tăng từ Trung Quốc, Hàn Quốc, trong khi tăng xuất khẩu sang Hoa Kỳ.
Trong chín tháng đầu năm 2026, thương mại hàng hóa hai chiều giữa Việt Nam và Trung Quốc đạt 253,1 tỷ USD, trong khi con số tương ứng với Hoa Kỳ ước khoảng 157,4 tỷ USD.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với 187,3 tỷ USD, còn Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất, với 140 tỷ USD.
Điều đó không có nghĩa là nỗ lực đa dạng hóa của Hà Nội là sai lầm - cần thiết, nhưng chưa đủ, theo các nhà phân tích.
Chữ ký của chính phủ trên một thỏa thuận hợp tác không phải là khả năng của một doanh nghiệp, bài viết trên East Asia Forum nhận định.
Hạn chế thực sự đằng sau sự phụ thuộc thương mại của Việt Nam có thể nằm ở năng lực còn hạn chế của các doanh nghiệp trong nước, chứ không phải số lượng đối tác thương mại.
Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu là tốt nhưng nếu không khắc phục được vấn đề phát triển kỹ năng của doanh nghiệp trong nước thì chỉ làm lan rộng sự kém hiệu quả tiềm ẩn sang nhiều đối tác hơn nữa, theo East Asia Forum.
Một ví dụ về năng lực hạn chế của doanh nghiệp Việt Nam được phản ánh qua mức độ tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam vẫn đứng ngoài hoặc chỉ tham gia ở những công đoạn có giá trị gia tăng thấp, theo ông Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Vietnam.
Việt Nam News ngày 18/5/2026 dẫn số liệu từ hai năm trước, được ông Bình cung cấp, cho thấy, trong hơn một triệu doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam, chỉ khoảng 5.000 doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu; hơn 300 doanh nghiệp là nhà cung cấp cho các tập đoàn đa quốc gia và chỉ hơn 100 doanh nghiệp là nhà cung cấp cấp 1.
Theo Ngân hàng Thế giới, giá trị gia tăng trên mỗi lao động tại các doanh nghiệp tư nhân trong nước chỉ bằng khoảng một phần năm mức của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Theo các nhà quan sát, Nghị quyết 68, được Chính phủ Việt Nam ban hành ngày 4/5/2025, có thể là một trong những mảnh ghép quan trọng nhất trong bức tranh phát triển của nước này.
Nghị quyết này nhằm mục đích định vị khu vực tư nhân là "một động lực quan trọng nhất" của nền kinh tế, ưu tiên các nỗ lực cải thiện khả năng tiếp cận vốn và tăng cường liên kết với các tập đoàn xuyên quốc gia.
Chương trình nghị sự này đã được củng cố bởi một nghị quyết về chiến lược đầu tư nước ngoài vào tháng 6/2026.
Nghị quyết này đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa lên 45-50% trong các ngành trọng điểm, phát triển khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng đầu tư trực tiếp nước ngoài – bao gồm 500-1000 nhà cung cấp cấp 1 – và yêu cầu 75% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mới phải đến từ các nền kinh tế phát triển, tiên tiến về công nghệ.
Tuy nhiên, hiệu quả của Nghị quyết 68 sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển các mục tiêu chính sách thành thay đổi thực chất trong năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Báo Sài Gòn Giải Phóng tháng 7/2026 dẫn ý kiến doanh nghiệp tại TP HCM cho rằng khó tiếp cận vốn, chi phí sản xuất cao và khoảng cách giữa chủ trương với thực thi vẫn cản trở khu vực tư nhân.
Trong khi đó, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) trong báo cáo 2026 nhận định các liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước vẫn hạn chế, khiến lợi ích về năng suất và chuyển giao công nghệ chưa lan tỏa rộng.
Vì vậy, thách thức không chỉ là mở rộng khu vực tư nhân hay thu hút thêm đầu tư, mà còn là nâng cao năng lực công nghệ và năng suất của doanh nghiệp trong nước, giúp họ đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia và tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn.
OECD nhấn mạnh rằng để đạt được điều này, Việt Nam cần tăng cường các chương trình phát triển nhà cung cấp, hỗ trợ R&D và thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa.




















